Trong quá trình khảo sát thai nhi trên siêu âm, hệ thống tiết niệu của thai nhi là một phần không thể thiếu.


Có khoảng 20%, sau khi sinh phát hiện các bất thường (google image)

Về hình thái học, có thể phát hiện các dị dạng hệ niệu của thai nhi và dựa vào lượng nước ối có thể đánh giá chức năng của thận thai nhi. Khi khảo sát hệ niệu thai nhi, các vấn đề đánh giá:

- Có bàng quang hay không?

- Có thận hay không? Vị trí, kích thước, có nang?

- Có giãn hệ niệu hay không (giãn đái bể thận, niệu quản..)?

- Tổn thương một bên, hai bên?

- Giới tính của thai nhi?

Bất thường về nhiễm sắc thể sẽ tăng lên gấp ba lần nếu dị dạng thận đơn độc và tăng gấp 30 lần nếu ngoài bất thường thận còn có các bất thường khác đi kèm.

Tình trạng bệnh đường niệu tắc nghẽn của thai nhi có thể được phát hiện dựa trên sự giãn một phần hay toàn bộ đường niệu. Nếu có sự tắc nghẽn hoàn toàn thì hậu quả nặng nề sẽ xảy ra đó là vô sản thận hoặc loạn sản thận hai bên.

Giãn bể thận hay thận ứ nước một hoặc hai bên xảy ra khoảng 1% số thai nhi (thai nhi nam nhiều hơn nữ). Giá trị bình thường của bể thận < 4 mm trước 19 tuần, < 5 mm trước 29 tuần, < 7 mm sau 30 tuần. Nên đánh giá lại sau 30 phút vì tình trạng giãn có thể chỉ thoáng qua. Đa số các trường hợp tình trạng này ổn định hoặc thậm chí thoái lui ở giai đoạn sơ sinh.

Có khoảng 20%, sau khi sinh phát hiện các bất thường như tắc nghẽn chỗ nối niệu quản bể thận hoặc hồi lưu bàng quang - niệu quản. Tình trạng giãn bể thận cũng là một dấu chứng của hội chứng Down nếu kèm theo các bất thường khác.

Một vấn đề khác cần biết là bàng quang của thai nhi và tình trạng nước ối, nếu trong giới hạn bình thường thì nhiều khả năng tình trạng thai nhi bình thường. Nên theo sự hướng dẫn của bác sĩ theo dõi tiếp tình trạng thai cho tới lúc sinh và sau sinh.

Nguòn: bau.vn
BACSI.com