Hãy TÌM trước khi gửi câu hỏi - Bạn sẽ có câu trả lời nhanh hơn!

Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Aerobic's Avatar
    Aerobic Đang Ngoại tuyến Quần dài
    Ngày tham gia
    Sep 2008
    Bài viết
    648

    Mặc định Bệnh bạch hầu có nguy hiểm không?

    Bệnh bạch hầu do nguyên nhân gì và có nguy hiểm không? Cần tiêm chủng thế nào để ngăn ngừa căn bệnh này!

  2. #2
    linhkienxehoi's Avatar
    linhkienxehoi Đang Ngoại tuyến Quần dài
    Ngày tham gia
    Feb 2009
    Bài viết
    202

    Mặc định

    Bạch hầu là một bệnh nhiễm khuẩn - nhiễm độc cấp tính, gây dịch. Bệnh có tiên lượng nặng, tỷ lệ biến chứng và tử vong rất cao nên điều quan trọng nhất để giảm tác hại của nó là phát hiện, xử trí sớm.

    Tác nhân gây bệnh là trực khuẩn Corynebacterium diphteriae. Chúng có sức sống tương đối cao và có khả năng sinh ngoại độc tố. Trong đờm, nước bọt, nước mũi, màng giả đã khô hoặc dính vào quần áo, vi khuẩn có thể sống được 5-10 ngày; dưới ánh nắng mặt trời chúng sống được 2 giờ; ở nhiệt độ thường là 5 tháng. Với sức nóng 58 độ C, vi khuẩn bị chết sau 5 phút, ở 60 độ C sau 3 phút. Với các chất sát khuẩn thông thường, vi khuẩn bị diệt nhanh.

    Tổn thương đầu tiên xuất hiện ở hầu họng, thanh quản, mũi là màng giả; cũng có thể thấy màng giả ở mắt, da, bộ phận sinh dục. Nguồn lây chủ yếu là người ốm và người lành mang khuẩn. Người ốm làm lây bệnh mạnh nhất trong thời kỳ đầu và có thể mang khuẩn từ vài tháng đến vài năm. Bệnh lan truyền chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải những giọt nước bọt nhỏ li ti từ trẻ ốm khi chúng khóc, ho, hắt hơi hoặc do dùng chung khăn mặt, quần áo, sách vở, đồ chơi, thức ăn; cũng có thể do hít phải những hạt bụi có chứa vi khuẩn bạch hầu lơ lửng trong không khí.

    Bệnh xảy ra quanh năm, có thể gây ra những vụ dịch nhỏ về mùa rét. Mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh bạch hầu nếu chưa được tiêm phòng, nhưng đa số là trẻ dưới 15 tuổi, nhất là trẻ 1-9 tuổi. Bệnh cảnh lâm sàng thường gặp là bạch hầu thể thường, bạch hầu thanh quản và bạch hầu ác tính. Chính độc tố bạch hầu là thủ phạm gây nhiễm độc.

    Với bạch hầu thể thường (hay thể họng - amiđan), ban đầu trẻ chỉ sốt nhẹ, biếng ăn, quấy khóc, không chịu chơi. Có thể trẻ có một vài biểu hiện làm ta nghĩ đến bệnh như: mệt mỏi, da xanh nhẹ, sổ mũi nước trong ở một bên, họng hơi đỏ, amiđan sưng, cực trên của amiđan có thể đã có màng trắng mờ hoặc những chấm trắng rất nhỏ, nổi hạch dưới hàm.

    Nếu được phát hiện và điều trị ngay, bệnh sẽ khỏi nhanh và không có biến chứng. Nếu không, chỉ 2-3 ngày sau, màng giả đã xuất hiện ở trên mặt amiđan rồi lan rất nhanh sang amiđan bên kia. Chỉ sau vài giờ hoặc vài ngày, khắp họng đã bị phủ một màng trắng ngà hoặc trắng xám, dính chặt vào lớp niêm mạc bên dưới và có xu hướng lan rộng rất nhanh; nếu bóc dễ gây chảy máu. Tình trạng toàn thân mỗi lúc một nặng. Trẻ mệt mỏi, chỉ muốn nằm, da xanh tái, nuốt đau, sổ mũi nhiều, nước mũi có lẫn mủ, mạch nhanh, nhỏ, huyết áp hạ. Nếu VA cũng sưng, trẻ sẽ bị tắc mũi, khó thở.

    Việc điều trị lúc này có nhiều khó khăn. Tuy vậy, nếu được điều trị tốt, màng giả sẽ rụng hết sau 24-48 giờ; các triệu chứng khác giảm dần rồi hết. Trẻ lại sức dần. Những trường hợp nặng màng giả bong chậm, có khi sau 5 ngày màng giả vẫn còn, tình trạng nhiễm độc nặng hơn, đến ngày thứ 10-15, trẻ có thể bị liệt hoặc chuyển thành bạch hầu thanh quản hoặc bạch hầu ác tính. Trẻ có thể bị chết bất chợt vì suy tim hoặc ngạt thở và nhiễm độc toàn thân nặng. Một số trường hợp bị liệt màn hầu, liệt chân, liệt một số dây thần kinh sọ não, viễn thị. Nếu liệt màn hầu, trẻ sẽ bị sặc, nói khẽ và nói giọng mũi; không làm được động tác thổi lửa hay huýt sáo; nghe hơi kém, ngủ ngáy vì lưỡi gà thõng xuống.

    Bạch hầu thanh quản thường tiếp theo sau bạch hầu thể thường do bệnh được phát hiện và điều trị không kịp thời. Bệnh diễn biến qua ba giai đoạn: khàn tiếng, khó thở và ngạt thở. Ban đầu trẻ chỉ sốt nhẹ, hơi khàn tiếng, húng hắng ho nhưng sau đó biến chuyển rất nhanh. Trẻ bị khàn giọng, mất tiếng, tiếng ho nghe ông ổng. Một vài ngày sau sẽ xuất hiện khó thở. Ban đầu trẻ khó thở về tối và đêm, sau tăng dần, khó thở từng cơn khi bị kích thích, thỉnh thoảng lại thở rít lên và co rút. Từ khó thở vào, khó thở chậm, có tiếng rít, lõm trên xương ức, dần dần trẻ khó thở cả hai thì, hít vào nặng nhọc và thở ra khó khăn. Cứ như thế, rồi trẻ xỉu dần đi, nằm yên không vật vã tưởng chừng bệnh đỡ. Nếu không mở khí quản kịp thời, trẻ sẽ tử vong vì ngạt thở.

    Bạch hầu ác tính thường tiếp sau bạch hầu thể thường vài ngày do bệnh không được điều trị kịp thời. Nếu tiên phát, bệnh thường nặng hơn. Triệu chứng nổi bật của thể này vẫn là màng giả và tình trạng nhiễm độc toàn thân. Màng giả lan khắp họng, dày, sần sùi, màu vàng đen hoặc có máu. Miệng hôi, nói giọng mũi. Trẻ bị chảy mũi, nước mũi có mủ loãng lẫn máu. Lỗ mũi bị loét và có thể có màng giả. Hạch dưới hàm sưng to làm cổ bạnh ra, khó nuốt, đôi khi bị sặc. Vào ngày thứ sáu của bệnh, màn hầu thường bị liệt. Trẻ mệt lử, da xanh tái, nổi ban, đổ máu cam; có trẻ bị nôn ra máu, chảy máu dưới da, mạch nhanh, không đều, huyết áp hạ, gan to; môi và đầu ngón chân, tay tím. Thường trẻ tử vong sau 24-36 giờ hoặc 1 tuần vì suy tim và suy thận. Một số trường hợp kéo dài được tới 30-50 ngày nhưng trẻ vẫn có nguy cơ chết bất chợt.

    Trẻ bị bạch hầu là phải được theo dõi, chăm sóc và điều trị tại bệnh viện truyền nhiễm hoặc khoa truyền nhiễm để có điều kiện cách ly và hồi sức cấp cứu. Bệnh có thuốc kháng sinh đặc trị (penicillin và huyết thanh kháng độc tố bạch hầu). Nếu được phát hiện trước 48 giờ và chưa có biến chứng, được điều trị và chăm sóc tốt, trẻ sẽ khỏi. Nên điều trị ngay khi có màng giả chứ không chờ kết quả xét nghiệm. Ở gia đình, các vườn trẻ, lớp mẫu giáo, khi thấy trẻ có hiện tượng viêm mũi, viêm họng, da hơi xanh, vẻ mệt mỏi, cần cho khám bệnh ngay.

    Trẻ bị bệnh phải được nghỉ ngơi tuyệt đối, theo dõi trong 55 ngày. Nếu cho ra viện sớm trước ngày thứ 30, cần dặn bệnh nhân hạn chế vận động, đi lại, tránh thay đổi tư thế đột ngột để phòng trụy tim mạch. Buồng dành cho người bệnh phải bảo đảm yên tĩnh, sạch sẽ, ấm và không có gió lùa. Chỉ ngừng cách ly bệnh nhân sau khi đã cấy chất ngoáy họng hai lần mà không tìm thấy vi khuẩn gây bệnh; và chỉ cho ra viện khi đã sạch vi khuẩn.

    Cho trẻ ăn nhẹ, dễ tiêu, có đủ chất, đủ năng lượng; tránh để sặc. Ở giai đoạn bệnh toàn phát, cần cho trẻ uống nhiều nước, ăn nhẹ (sữa, cháo), ăn nhiều quả tươi. Hằng ngày nhỏ mũi thuốc sát khuẩn, cho trẻ súc miệng nước muối; chú ý vệ sinh cá nhân, súc miệng nước muối, lau sạch da dẻ, xoay trở người đề phòng loét.

    Đồ chơi, đồ dùng của trẻ ốm phải được đun sôi hoặc ngâm 15 phút trong dung dịch clorua vôi 1% hay dung dịch cloramin 1%. Quần áo, khăn mặt, khăn mùi xoa... cũng phải được luộc hoặc ngâm trong dung dịch cloramin 2% hoặc 3%. Buồng bệnh phải được quét vôi lại, cọ rửa sàn nhà bằng cloramin 2% hoặc sữa vôi 20%.

    Các cháu trong gia đình hoặc cùng trong một vườn trẻ, lớp học phải được cách ly và theo dõi trong 7 ngày kể từ khi đưa trẻ ốm đi bệnh viện. Sau 7 ngày, nếu trẻ vẫn khỏe mạnh, không có triệu chứng viêm họng mới được ngừng cách ly. Ngược lại, nếu trẻ bị viêm họng, sổ mũi cần cho đi khám bệnh ngay.

    Bệnh đã có vacxin phòng ngừa hiệu quả. Các bậc cha mẹ cần quan tâm cho trẻ đi tiêm chủng đầy đủ theo đúng lịch: mũi 1 khi trẻ được 2 tháng tuổi, mũi 2 khi 3 tháng tuổi và mũi cuối cùng sau đó 1 tháng.

    BS Nguyễn Long Châu, Sức Khỏe & Đời Sống

  3. #3
    thời trang's Avatar
    thời trang Đang Ngoại tuyến Quần dài
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Bài viết
    441

    Mặc định

    Bạch hầu là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, lây theo đường hô hấp, gây tổn thương chủ yếu ở vòm hầu, họng, thanh quản, mũi, đôi khi ở da và các vùng niêm mạc khác... Đặc điểm nổi bật của bệnh là có những màng giả xuất hiện ở chỗ nhiễm khuẩn.

    Ngoại độc tố bạch hầu gây hủy hoại mô tại chỗ, hoặc tác động xa lên cơ tim, thần kinh ngoại biên và thận.

    Vi khuẩn gây bệnh lây truyền qua việc tiếp xúc với chất tiết từ đường hô hấp, hoặc với những đồ vật dính chất bài tiết từ chỗ tổn thương của người bị nhiễm khuẩn khoảng 2 tuần hoặc ngắn hơn (ít khi kéo dài hơn 4 tuần, hiếm khi vi khuẩn mạn tính kéo dài trên 6 tháng).
    Nếu người mẹ đã có miễn dịch thì đứa con mới sinh ra của họ có được miễn dịch tương đối do mẹ truyền cho. Đây là miễn dịch thụ động và thường sẽ mất đi trước 6 tháng. Trẻ em chưa có miễn dịch, trẻ dưới một tuổi là đối tượng dễ mắc bệnh bạch hầu.

    Miễn dịch sau khi khỏi bệnh không phải lúc nào cũng bền vững (tái phát khoảng 2-5%). Miễn dịch sau khi tiêm giải độc tố cũng giảm dần, do vậy người lớn nếu không tiêm chủng nhắc lại vẫn có thể mắc bệnh.

    Bệnh bạch hầu có các thể sau:
    Bạch hầu họng: Bệnh nhân sốt nhẹ, mệt mỏi và đau họng. Trẻ quấy khóc, da xanh, kém ăn, bỏ bú, buồn nôn, ói mửa, nuốt đau. Điển hình nhất là giả màng màu xám trắng, thường nằm trên bề mặt amiđan, sau đó lan ra xung quanh tới lưỡi gà, vòm họng, hầu, mũi, thanh quản. Giả màng dính chặt vào các mô bên dưới, khi ta cố bóc tách sẽ gây chảy máu; khi bỏ vào nước không tan. Hai bên cổ trẻ phù nề làm cổ bạnh ra, hạch quanh cổ sưng nhẹ và đau, hơi thở có mùi hôi, viêm hạch và sưng cổ. Chỉ cần khám phát hiện được giả màng là phải điều trị bạch hầu ngay.

    Bạch hầu thanh quản: Thường thứ phát sau bệnh hầu họng, bệnh nhân sốt nhẹ, khàn tiếng (100%), ho khan, nói giọng khàn, nặng dần tới mức mất tiếng. Khó thở tăng dần, thở rít, lõm ngực, khi giả màng lan xuống khí quản kèm phù nề sẽ gây tắc nghẽn đường thở, trẻ vật vã, đổ mồ hôi, tím tái. Nếu không mở khí quản kịp thời, trẻ sẽ tử vong vì ngạt thở.

    Bạch hầu ác tính: Là thể bệnh trầm trọng nhất, biểu hiện ồ ạt hơn các bệnh khác. Bệnh nhân nhanh chóng bị nhiễm độc nặng với biểu hiện: sốt cao, mạch nhanh, huyết áp tụt, tím tái. Thường các giả màng lan nhanh từ amidan qua vòm hầu lên vùng sau mũi, đến tận hai lỗ mũi. Các hạch quanh cổ sưng to, phù nề, tạo ra vẻ "cổ bạnh" điển hình. Bệnh nhân bị chảy máu miệng, mũi, da. Biến chứng trên xảy ra sớm chỉ sau vài ngày. Hơn một nửa bệnh nhân bị bệnh bạch hầu ác tính tử vong mặc dù được điều trị.

    Ngoài những thể thường gặp trên, bệnh bạch hầu còn xuất hiện ở các cơ quan khác như mũi, da, lỗ tai, kết mạc, âm đạo; thường biểu hiện nhẹ, ít xảy ra tình trạng nhiễm độc.

    Bạch hầu là một bệnh nguy hiểm nên bệnh nhân có thể tử vong do các biến chứng. Hai biến chứng nổi bật của bạch hầu là viêm cơ tim và viêm dây thần kinh; ít gặp hơn là hoại tử ống thận cấp gây suy thận, viêm phổi, viêm nội tâm mạc...

    Về nguyên tắc, bệnh bạch hầu được điều trị càng sớm càng tốt, vì nếu phát hiện và điều trị muộn thì nguy cơ tử vong sẽ cao. Điều trị phải toàn diện, trung hòa độc tố bạch hầu phối hợp với kháng sinh diệt khuẩn, phát hiện ngăn ngừa các biến chứng, chống tái phát, chống bội nhiễm và chế độ dinh dưỡng đầy đủ.

    Bệnh bạch hầu có thể dự phòng hiệu quả bởi vacxin DPT. Hiện nay, trong chương trình tiêm chủng mở rộng, vacxin DPT phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván được tiêm miễn phí cho tất cả trẻ em dưới 1 tuổi theo lịch sau: trẻ 2 tháng tuổi tiêm mũi 1, ba tháng tuổi tiêm mũi 2 và bốn tháng tuổi tiêm mũi 3.

Visitors found this page by searching for:

benh bach bien co nguy hiem khong

benh bach cau co nguy hiem khong

bach cau tang co nguy hiem gi khong

benh bach tang co lay khong

hau qua benh bach cau

Nguyen nhan gay benh bach hau

su nguy hiem cua benh bach cau

benh bach bien an mang tre co hai hay khong

bach cau tang cao co nguy hiem khong

bach cau cao co nguy hiem khong

benh tiem tang sau bach hau thanh quantrong bach cau co monocyte co nguy hiem khongbenh hong cau tang co nguy hiem khongbenh bach cau tang co het khong?co hach hầu co hai gi khongtang nhe ti le monocytes co nguy hiem khongba bau bach cau tang co nguy hiem khongNguyen nhan cua benh bach haubenh bach troc hau qua gi khongbenh bach tang co chet khongbenh bach cau tang co nguy hiem khongnguyên nhân và biểu hiện của bệnh bạch hầubenh bach tang co nguy hiem khongbach cau tang nhe monocyte co nguy hiem khongsu nguy hiem cua bach cau tang cao

Tag của Chủ đề này

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •